Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Khi trẻ bị rối loạn tiêu hóa

(suckhoedoisong.vn) - Rối loạn tiêu hóa ở trẻ em là một trong những bệnh lý khiến các bậc phụ huynh luôn phải quan tâm lo lắng. Có em thì bị táo bón kéo dài, có em lại bị đi ngoài sống phân, tiêu chảy… Vì sao lại thế và làm thế nào để khắc phục?

Nguyên nhân dẫn đến rối loạn tiêu hóa ở trẻ em

Nói về nguyên nhân gây rối loạn tiêu hóa thì có nhiều, nhưng đối với trẻ em thì những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng này là do trẻ chưa ý thức được vấn đề vệ sinh cơ thể, vệ sinh ăn uống, nề nếp sinh hoạt và sự lây nhiễm qua tiếp xúc. Đặc biệt là đối với học sinh thì những rối loạn tiêu hóa thường gặp là táo bón và tiêu chảy cấp.

Ảnh minh họa (nguồn Internet)

Táo bón

 

Táo bón là một trong những triệu chứng rất phổ biến của bệnh lý hệ thống tiêu hoá và cũng là triệu chứng xuất hiện trong rất nhiều bệnh lý khác trong cơ thể. Tuy chỉ là triệu chứng nhỏ không ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống nhưng gây nhiều phiền toái cho bệnh nhân và nếu táo bón xảy ra kéo dài ở trẻ em, rất dễ dẫn tới các tổn thương thực thể của đại trực tràng nếu không được điều trị kịp thời.

Có rất nhiều nguyên nhân gây táo bón như sau sốt cao, do dùng thuốc; do thói quen đi đại tiện không đều; do chế độ ăn nhiều đạm, ít chất xơ, do căng thẳng thần kinh, do tổn thương trong ống tiêu hóa... tuy nhiên ở trẻ em trong độ tuổi đi học thường táo bón do một vài nguyên nhân sau: chứng táo bón do chế độ ăn không đủ nước và chất xơ. Những trẻ ăn chế độ ăn đặc biệt với thức ăn nhanh - giàu chất béo (thịt rán, sữa trứng khuấy sẵn) và đường (kẹo, nước ngọt nhiều đường) có thể bị táo bón thường xuyên hơn. Thường thì chứng táo bón xuất hiện sau khi trẻ trải qua một thời gian viêm nhiễm, không khỏe.

 

Trong khi bị ốm, trẻ thường không uống đủ lượng nước cần thiết khiến chất thải trở nên rắn và rất khó di chuyển. Những chất thải này sẽ gây xước hậu môn và là nguyên nhân gây ra bệnh nứt hậu môn. Stress cũng có thể dẫn tới táo bón, trẻ có thể bị táo bón khi chúng lo lắng về điều gì đó, chẳng hạn như khi trẻ bắt đầu đi học ở trường mới hoặc khi trẻ gặp vấn đề gì đó ở nhà. Trẻ lười đi vệ sinh, thậm chí ngay cả khi trẻ có “nhu cầu”. Tuy nhiên đây lại là một nguyên nhân ít được để ý đến.

Một số trẻ bị táo bón do mắc phải hội chứng ruột kích thích (IBS), có thể xảy ra khi trẻ bị stress hoặc khi trẻ ăn phải thức ăn nào đó, thường là thức ăn quá nhiều chất béo hoặc gia vị. Tuy nhiên cũng cần chú ý trong một số trường hợp, táo bón kéo dài có thể là dấu hiệu của một bệnh lý thực thể nào đó như dài đại tràng, trĩ… vì vậy cần đưa trẻ đến bác sĩ để thăm khám nếu táo bón kéo dài.

Tiêu chảy cấp

Người lớn nên quan tâm tới vấn đề tiêu hóa của trẻ để có biện pháp can thiệp kịp thời, tránh những biến chứng có hại cho sức khỏe của trẻ. Điều quan trọng là cần đưa trẻ đến gặp bác sĩ khi trẻ gặp rối loạn tiêu hóa để được khám, chẩn đoán và có biện pháp điều trị thích hợp.

Cũng giống như ở người lớn, nguyên nhân gây tiêu chảy cấp ở trẻ em thường gặp nhất là do nhiễm trùng, đây là loại tiêu chảy gặp khắp nơi trên thế giới đặc biệt ở các nước kém phát triển, đồng thời là nguyên nhân gây suy dinh dưỡng và tử vong cao ở trẻ em. Sở dĩ nguyên nhân gây tiêu chảy cấp chủ yếu do nhiễm khuẩn vì điều kiện vệ sinh thấp kém, môi trường ô nhiễm, thiếu nước sạch, ăn ở đông đúc chật chội, thiếu giáo dục và y tế. Hầu hết nhiễm trùng gây tiêu chảy cấp lây truyền qua đường phân – tay – miệng, qua nước và thức ăn nhiễm bẩn.

Khi bị tiêu chảy cấp, ngoài đi đại tiện nhiều lần trong ngày, phân lỏng nhiều nước, thường có kèm theo nôn mửa, đau bụng, sốt và các biểu hiện toàn thân khác tùy theo từng nguyên nhân. Các nguyên nhân hay gặp gây nên tiêu chảy cấp ở trẻ em là:

- Tiêu chảy cấp do phẩy khuẩn, do các vi khuẩn dạng campylobacter gây ra. Ổ chứa vi khuẩn là động vật, thường là ở gia súc và gia cầm như chó con, mèo con, chim, lợn, các động vật gặm nhấm… đều có thể là nguồn lây bệnh cho người. Nguyên nhân các vụ dịch xảy ra phần lớn liên quan đến thức ăn và nhất là thịt gia cầm không được nấu chín, sữa không được tiệt khuẩn và nước chưa được lọc sạch.

- Tiêu chảy cấp do salmonela: đây là nguyên nhân hay gặp nhất trong các nguyên nhân gây ra ngộ độc thức ăn. Khi nhiễm vi khuẩn, sau 12 – 36 giờ sẽ xuất hiện các biểu hiện đau bụng dữ dội vùng thượng vị và quanh rốn, đôi khi đau lan tỏa khắp bụng; buồn nôn và nôn nhiều lần, ỉa chảy nhiều lần trong ngày, dẫn đến mất nước nếu không điều trị kịp thời có thể dẫn đến thiểu niệu, vô niệuvà tử vong do rối loạn nước và điện giải. Điều trị chủ yếu bổ sung nước và điện giải, hạ sốt, an thần và cân nhắc khi sử dụng kháng sinh.

- Tiêu chảy cấp do độc tố của tụcầu: bệnh cảnh này là do ăn phải thức ăn đã nhiễm ngoại độc tố của tụ cầu vàng. Sau khi nhiễm từ 30phút – 6giờ, bệnh nhân đột ngột xuất hiện đau bụng dữ dội vùng thượng vị nhiều hơn vùng rốn, đau quặn từng cơn; buồn nôn và nôn nhiều lần trước khi đi ngoài nhiều lần trong ngày, phân nhiều nước; thường không có sốt hoặc sốt nhẹ, nhức đầu, mệt mỏi, có thể rối loạn nước và điện giải dẫn đến trụy tim mạch, dễ gây tử vong ở trẻ nhỏ. Điều trị chủ yếu là bổ sung nước và điện giải, trợ tim mạch.

- Bệnh do Rotavirus: bệnh lây theo đường tiêu hóa qua thức ăn, nước uống nhiễm virus. Virus này chủ yếu gây bệnh cho trẻ em dưới 2 tuổi; thường xuất hiện sau 24 – 48h, khởi phát đột ngột với các triệu chứng sốt cao hoặc không sốt, nôn nhiều, ỉa chảy nhiều lần trong ngày, phân nhiều nước, đôi khi dẫn đến rối loạn nước và điện giải rất nhanh. Điều trị chủ yếu là điều chỉnh cân bằng nước và điện giải.

- Bệnh do phẩy khuẩn tả: Bệnh lây nhiễm theo đường tiêu hóa, do ăn phải thức ăn, nước uống… bị nhiễm mầm bệnh trong quá trình nuôi trồng, chế biến, bảo quản… hoặc do ruồi nhặng, chuột gián… làm lây lan mầm bệnh. Đặc biệt nguồn nước bị ô nhiễm là phương tiện lây truyền hết sức nguy hiểm. Bệnh thường xảy ra vào mùa hè, đặc biệt những vùng sau lũ lụt; thường xuất hiện ở các nước và những vùng có trình độ kinh tế xã hội thấp kém, không cung cấp đủ nước sạch, điều kiện vệ sinh môi trường không tốt.

 

Sau khi nhiễm phẩy khuẩn tả, bệnh biểu hiện đột ngột xuất hiện ỉa lỏng dữ dội, phân toàn nước, màu trắng đục như nước vo gạo có lẫn những hạt trắng lổn nhổn mùi tanh. Đi ngoài dễ dàng, số lượng nhiều, nhiều lần. Sau khi đi lỏng vài giờ sẽ xuất hiện nôn, nôn dễ dàng, số lượng nhiều, lúc đầu là nước và thức ăn, sau dịch giống như dịch phân; thường không sốt hoặc sốt nhẹ; bệnh nhân mệt lả, khát nước, có khi xuất hiện khó thở, các đầu chi lạnh rúm ró, mạch nhanh nhỏ, khó bắt, huyết áp tụt. Nếu không điều trị kịp thời bệnh nhân sẽ tử vong vì shock không hồi phục.

 Salmonella thủ phạm gây bệnh tiêu chảy cấp.
Dự phòng rối loạn tiêu hóa thế nào?

Táo bón: Tập cho trẻ có thói quen đi đại tiện đúng giờ, những ngày đầu chưa quen, trẻ không đại tiện được cũng không sao, cứ kiên trì, đúng giờ cho trẻ ngồi vào bô như vậy (khoảng 10-15 phút), nói chung khoảng vài tuần sau là có thể tạo thành thói quen phản xạ đi ngoài.

Tăng cường rau xanh trong bữa ăn của trẻ kết hợp hoa quả như cam, bưởi, đặc biệt là chuối, cho trẻ ăn 1 – 2 quả chuối một ngày có thể đạt được hiệu quả của việc nhuận tràng, uống nước đun sôi để ấm. Ngoài ra có thể cho trẻ uống một chút nước mật ong vào sáng sớm, mỗi lần uống không ít hơn 60ml và pha bằng nước sôi.

Tiêu chảy: Để dự phòng tiêu chảy cấp cho trẻ, người lớn (gia đình và nhà trường) cần giáo dục cho học sinh có ý thức giữ gìn môi trường sạch sẽ; giữ gìn vệ sinh cá nhân như luôn rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh; không chơi đùa tại những nơi có rác bẩn; không ăn thức ăn đường phố, thức ăn không đảm bảo vệ sinh; ăn chín uống sôi… Với người lớn thì cần chế biến và bảo quản thức ăn, nước đảm bảo an toàn thực phẩm; phải đảm bảo có “đôi bàn tay sạch” khi chế biến thức ăn; quản lý tốt chất thải sinh hoạt ra môi trường. Không nên để trẻ gần gũi, ôm ấp vật nuôi, đặc biệt khi vật nuôi có dấu hiệu bị ốm. Cần cách ly trẻ mang bệnh với các trẻ khác để tránh bệnh lây lan…

Rối loạn tiêu hóa là chứng bệnh thường gặp và cũng có nhiều người chủ quan nên đã có những trường hợp đáng tiếc xảy ra. Do đó, người lớn nên quan tâm tới vấn đề tiêu hóa của trẻ để có biện pháp can thiệp kịp thời, tránh những biến chứng có hại cho sức khỏe của trẻ. Điều quan trọng là cần đưa trẻ đến gặp bác sĩ khi trẻ gặp rối loạn tiêu hóa để được khám, chẩn đoán và có biện pháp điều trị thích hợp.

 ThS. Nguyễn Bạch Đằng

Trẻ chậm nói

Trẻ chậm nói, có thể do có vấn đề ở cơ quan phát âm hay do sự tác động của các yếu tố tâm lý, giáo dục gây rối loạn ngôn ngữ ở trẻ. Khi thấy trẻ chậm nói, các bậc cha mẹ hãy đưa trẻ đến cơ sở y tế chuyên khoa nhi để các bác sĩ kiểm tra.

Từ 6 - 9 tháng tuổi, trẻ phát âm những từ đầu tiên

Quá trình phát triển ngôn ngữ bình thường ở trẻ

Giai đoạn phát triển ngôn ngữ bình thường của trẻ được biểu hiện như sau:

Từ 3 - 6 tháng: trẻ bắt đầu chăm chú nhìn vào người nói chuyện. Quay đầu về phía có tiếng động phát ra.

Phân biệt được các tiếng động khác nhau phát ra từ các vị trí khác nhau.

Nói được nguyên âm “a”, từ “ba”, “bà”.

Từ 6 - 9 tháng: nói được 2 âm khác nhau như “ma ma”, “da da”.

Từ 9 - 12 tháng: trẻ phát âm “ê”, “a” kéo dài thành một chuỗi âm thanh như người lớn nhưng không rõ từ.

Tùy theo mỗi trẻ, nhưng khi được khoảng 11 tháng hay 1 tuổi có trẻ nói được khoảng 2 - 3 từ đơn khá rõ, có thể là: bố, bà.

Từ 12 - 15 tháng: trẻ có thể phát âm như tiết tấu âm nhạc để giữ cho câu chuyện tiếp tục.

Từ 15 - 18 tháng: sử dụng được 4 từ, thường là tên con vật kết hợp với cử chỉ, đưa tay vẫy, chỉ. Khi trẻ được 18 tháng tuổi trẻ bắt đầu nói và tự nối ghép được hai từ với nhau. Ở giai đoạn này, trẻ nói bắt đầu hình thành các trật tự câu. Trẻ biết chỉ được ít nhất là sáu bộ phận trên cơ thể, chỉ được một hai hình ảnh quen thuộc khi cho trẻ nhìn tranh như: hình bố, hình con cá hoặc hình con chó…

Từ 18 tháng đến 2 năm: biết khoảng 25 từ, gọi tên người, chào hỏi, từ chối.

Từ 2 - 3 tuổi: nói rất nhiều, biết từ 50 - 200 từ, tự nói chuyện khi chơi. Đến 3 tuổi trẻ tạo ra một cụm từ có đầy đủ thành phần chủ vị. Trẻ biết sử dụng các câu đơn giản, đặt câu hỏi đơn giản.

Trẻ trả lời được các câu hỏi như: cái gì, ở đâu? Có/ không. Sau giai đoạn này, trẻ sẽ nói được và sẽ tạo đà cho trẻ phát triển được rất nhiều các câu phức tạp, hình thành được các câu chuyện dài với nội dung khá logic.

Từ 3 - 4 tuổi: trẻ nói được các câu phức tạp trẻ bắt đầu sử dụng các ngôn ngữ ấy một cách khá tốt. Tự kiểm soát được cường độ giọng nói, xây dựng ngữ điệu như người lớn, thường hỏi cái gì, ở đâu, tại sao...

Nguyên nhân khiến trẻ chậm nói

Nguyên nhân làm trẻ chậm nói được xếp thành 2 nhóm chính là nguyên nhân thực thể và nguyên nhân tâm lý. Nguyên nhân thực thể là do trẻ có những vấn đề về cơ quan phát âm (tai, mũi, họng), cơ quan chỉ huy (não bị dị tật bẩm sinh, bại não, những di chứng sau xuất huyết não, viêm màng não...). Nguyên nhân tâm lý là do gia đình hoặc quá cưng chiều, hay bỏ bê trẻ, hoặc đã xảy ra một biến cố nào đó làm ảnh hưởng đến tâm lý trẻ.

Khi nào cần can thiệp?

Trước tiên cha mẹ, người thân cần chú ý chăm sóc, quan tâm phát triển kỹ năng ngôn ngữ ở trẻ phù hợp với độ tuổi, và cần can thiệp sớm khi thấy trẻ có dấu hiệu bất thường về phát triển ngôn ngữ.

Các biểu hiện bất thường về phát triển ngôn ngữ ở trẻ:

- Không đáp ứng với giọng nói hay những âm thanh to khi bé 6 – 8 tuần tuổi.

- Không cười với giọng nói của cha mẹ lúc 2 tháng.

- Không quan tâm đến người và vật xung quanh lúc 3 tháng.

- Không quay đầu theo hướng âm thanh lúc 4 tháng.

- Không cười tự phát lúc 6 tháng.

-Không bập bẹ lúc 8 tháng.

-Không nói được từ đơn lúc bé 2 tuổi.

- Không nói được một câu đơn giản khi bé 3 tuổi.

Nếu thấy trẻ có một trong những biểu hiện trên, cần đưa trẻ đến cơ sở y tế để các bác sĩ kiểm tra. Tùy theo mức độ chậm nói và độ tuổi của trẻ các bác sĩ sẽ có nhiều hình thức can thiệp khác nhau như tư vấn, hướng dẫn cha mẹ huấn luyện ngôn ngữ cha mẹ tại gia đình, hoặc cần kết hợp chuyên gia ngôn ngữ, tâm lý và bác sĩ để can thiệp thúc đẩy ngôn ngữ ở trẻ.

Đối với trẻ chậm nói do nguyên nhân thực thể, đa phần là do trẻ có vấn đề về thính lực. Các bác sĩ phải điều trị về thính lực cho trẻ. Đối với trẻ bị điếc nhẹ và điếc trung bình thì việc điều trị trước 5 tuổi rất có hiệu quả. Trong những trường hợp điếc do viêm tai, thủng màng nhĩ, trẻ sẽ được điều trị bằng phẫu thuật, vá màng nhĩ để nâng sức nghe. Với những trường hợp không nghe lại được thì phải can thiệp bằng cách đeo máy nghe.

Chăm sóc phát triển ngôn ngữ ở trẻ tập nói

Cha mẹ cần quan tâm chăm sóc thúc đẩy kỹ năng ngôn ngữ ở trẻ tùy theo độ tuổi. Trẻ có thể nghe và hiểu từ rất sớm, trước khi trẻ có thể tự nói.

Do đó cha mẹ cần khuyến khích trẻ tập nói.

Cần thường xuyên nói chuyện với trẻ, đọc sách cho trẻ nghe, khuyến khích trẻ tập trung vào bạn, vào đồ vật nào đó mà bạn muốn nói đến. Nên nói đến những vật có trước mặt, hay những điều đang xảy ra. Không ép trẻ phải nói nhưng nhớ đưa ra lời khen khi trẻ tập nói. Chú ý lắng nghe, cho con bạn có thời gian để thực hiện những lời trẻ sắp nói, cũng như thường xuyên đưa ra lời động viên như: “Con nói giỏi lắm”, giúp trẻ mạnh dạn tập nói.

Nên dạy cho trẻ những từ đơn giản, dễ hiểu. Tốt nhất là dạy trẻ nói dựa theo những tình huống xảy ra hàng ngày, tạo nhiều tình huống khác nhau khi nói về một từ nào đó. Tập cho con bạn biết nghe các âm thanh khác nhau hay tập cho con giao tiếp qua những hình ảnh hay điệu bộ cũng là cách giúp cho trẻ tập nói tốt. Không nên cho trẻ xem ti vi quá nhiều, cần kiểm soát thời gian và chương trình ti vi. Cha mẹ nên cùng xem với trẻ các chương trình như phim hoạt hình, ca nhạc và bình luận về các tình tiết, nhân vật, hội thoại trong phim để giúp trẻ xây dựng phản xạ ngôn ngữ.

BS. NGUYỄN NGỌC LAN


Bệnh thủy đậu, thời điểm thích hợp để tiêm ngừa

Bệnh thủy đậu (còn gọi là trái rạ) là một bệnh truyền nhiễm do siêu vi khuẩn varicella-zoster gây ra. Bệnh xảy ra ở hầu hết mọi lứa tuổi, nhưng nhiều nhất là ở trẻ em nhỏ hơn 10 tuổi. Tại Việt Nam, thủy đậu là bệnh truyền nhiễm phổ biến.

Diễn tiến của bệnh

Khi khởi phát, người bệnh có thể có biểu hiện sốt, đau đầu, đau cơ, một số trường hợp nhất là trẻ em có thể không có triệu chứng báo động… sau đó cơ thể người bệnh sẽ xuất hiện những “nốt rạ”. Đây là những nốt tròn nhỏ xuất hiện nhanh trong vòng 12 - 24 giờ, các nốt này sẽ tiến triển thành những mụn nước, bóng nước. Nốt rạ có thể mọc khắp toàn thân hay mọc rải rác trên cơ thể, số lượng trung bình khoảng 100 - 500 nốt. Trong trường hợp bình thường những mụn nước này khô đi, trở thành vảy và tự khỏi hoàn toàn trong 4 - 5 ngày. Ở trẻ em, thủy đậu thường kéo dài khoảng 5 - 10 ngày dẫn đến việc phải nghỉ học hoặc nghỉ đến nơi giữ trẻ.

Biến chứng của thủy đậu

Thông thường, thủy đậu là bệnh lành tính, nhưng có thể gây ra nhiều biến chứng rất nguy hiểm như: viêm màng não, xuất huyết, nhiễm trùng huyết, nhiễm trùng nốt rạ, viêm mô tế bào, viêm gan… Một số trường hơp có thể gây tử vong nếu người bệnh không được điều trị kịp thời. Người mẹ mắc bệnh thủy đậu khi đang mang thai có thể sinh con bị dị tật bẩm sinh sau này.

 Chủng ngừa là cách tốt nhất để phòng bệnh thủy đậu
Một biến chứng muộn thường gặp của thủy đậu là bệnh Zona hay còn gọi là bệnh dời leo, là một dạng tái phát muộn sau nhiều năm của bệnh trái rạ. Bệnh Zona cũng có những biến chứng nguy hiểm như: đau thần kinh, loét giác mạc, mù mắt...

Một bệnh lây nhiễm cao

Bệnh thủy đậu có thể lây lan qua đường hô hấp do hít phải những giọt nước nhỏ trong không khí từ miệng hay mũi của một người bị nhiễm thủy đậu, hoặc lây lan qua sự tiếp xúc trực tiếp với mụn nước của người bệnh. Bệnh cũng có thể lây lan qua sự tiếp xúc trực tiếp với quần áo hoặc vải trải giường… bị ô nhiễm bởi chất dịch tiết từ bóng nước hoặc từ miệng hay mũi của người bệnh. Ngoài ra, thủy đậu còn có thể lây từ mẹ sang con qua nhau thai.

Khoảng 90% những người nào mà chưa từng bị thủy đậu trong gia đình thì sẽ bị lây bệnh nếu có tiếp xúc trực tiếp với một người thân nhiễm bệnh.

Bệnh có thể lây từ 1 - 2 ngày trước khi nổi mụn nước cho đến khi tất cả những vết phồng đã đóng vảy. Để tránh lây lan cho những người xung quanh, người bệnh cần nghỉ học hoặc nghỉ làm việc khoảng 1 tuần kể từ khi thấy xuất hiện các dấu hiệu của bệnh.

Do đặc điểm dễ lây lan như vậy nên: trường học, nhà trẻ, doanh trại quân đội, các cơ quan, đơn vị làm việc tập thể… là những nơi thuận lợi dễ làm bùng phát dịch thủy đậu.

Thời điểm nào thích hợp cho chủng ngừa?

Mặc dù bệnh lây lan nhanh chóng trong cộng đồng, tuy vậy hiện tại đã có biện pháp chủ động để phòng ngừa bệnh thủy đậu đó là chủng ngừa bằng vắc-xin. Theo khuyến cáo của Uỷ ban an toàn Tư vấn Tiêm chủng của Hoa Kỳ vào tháng 6/2007, đối với trẻ từ 12 tháng tuổi tới 12 tuổi, tiêm 1 liều và nên tiêm thêm liều thứ 2 cách liều thứ nhất tốt nhất là 6 tuần trở đi hoặc trong khoảng 4 - 6 tuổi để gia tăng hiệu quả bệnh và giảm việc mắc bệnh thuỷ đậu trở lại mặc dù trước đó đã tiêm ngừa. Còn đối với trẻ trên 13 tuổi, thanh niên và người lớn tiêm 2 liều cách nhau tốt nhất là sau 6 tuần.

Hiện tại, bệnh thủy đậu có xu hướng gia tăng và có thể gây thành dịch, do đó các bậc phụ huynh nên đưa trẻ đi chủng ngừa ngay trước khi trẻ bị lây nhiễm trong trường học. Cách phòng bệnh (thủy đậu nói riêng và các bệnh có vắc-xin phòng ngừa nói chung), tốt nhất là các bậc phụ huynh nên cho trẻ chủng ngừa bệnh thường quy theo hướng dẫn của bác sĩ.

BS. ĐINH VĂN THỜI

Phòng bệnh cảm cúm cho trẻ

Chứng bệnh cảm cúm ở bé xảy ra quanh năm, song dễ mắc nhất là khoảng đầu mùa thu đến cuối mùa xuân. Mỗi năm, bé có thể mắc phải 6 - 7 đợt cảm cúm.

Dấu hiệu

- Họng bé bị đau, rát, có thể bị ho.

- Bé bị nghẹt mũi, chảy nước mũi.

- Bé bị sốt nhẹ hoặc sốt cao.

- Toàn thân bé nhức mỏi.


Nguyên nhân

- Do bé bị nhiễm virút.

- Nếu bé bị lạnh, khả năng bé bị nhiễm virút cảm cúm càng cao.

Dấu hiệu nên đưa bé đi khám

- Bé thở nhanh bất thường kèm theo triệu chứng khò khè, thở rít hoặc khó thở.

- Bé bị co thắt lồng ngực, đau ngực, cánh mũi phập phồng.

- Môi bé có thể chuyển sang tím tái.

- Bé bỏ bú hoặc bỏ ăn, ngủ li bì.

- Bé sốt cao, ho nhiều kèm theo dấu hiệu nôn trớ.

Các biến chứng của cảm cúm

Bé có thể bị viêm phổi, viêm xoang, nhiễm trùng tai, mất nước.

Ngoài ra, cảm cúm có thể làm tăng nguy cơ tiêu chảy, hen suyễn, suy tim ở bé.

Hướng dẫn điều trị

Bạn nên giữ ấm cho bé, nhất là những bộ phận dễ bị nhiễm lạnh trên cơ thể bé như cổ họng, chân, tay…

Đặt bé nằm trong phòng thoáng khí, tránh gió lùa trực tiếp.

Bạn nên thay quần áo ngay sau khi bé bị sốt cao, đổ mồ hôi nhiều. Đồng thời bạn nên lau cơ thể bé bằng nước ấm để hạ sốt hàng ngày: dùng nước đun sôi để nguội pha ấm và lau toàn bộ cơ thể bé, bạn nên chú ý đến vùng cổ, hai bên nách và vùng da bẹn của bé. Bạn tuyệt đối không được dùng nước đá chườm cho bé vì nhiệt độ thấp sẽ khiến các mạch máu của bé bị co lại.

Nếu không vệ sinh, bé có thể bị nhiễm trùng da, rôm sảy, ngứa ngáy, khó chịu và khiến tình trạng cảm cúm càng nghiêm trọng hơn.

Bạn không nên ủ ấm quá cho bé: việc ủ ấm chỉ khiến cho thân nhiệt bé bị tăng cao, gây nên tình trạng sốt cao co giật ở bé.

Bạn có thể cho bé dùng thuốc hạ sốt nhưng phải theo chỉ dẫn cụ thể của bác sĩ.

Bạn nên tăng cường các cữ bú trong ngày hoặc cho bé dùng thêm nước đun sôi để nguội để bù vào lượng nước đã mất. Bạn cũng nên ăn uống đủ dinh dưỡng để tăng chất lượng sữa cho bé.

Với bé ở độ tuổi ăn dặm, bạn có thể cho bé dùng nước hoa quả, nước cháo, nước canh… Cho bé ăn thành nhiều bữa nhỏ trong ngày với những loại thức ăn dạng lỏng, dễ tiêu hóa. Các loại rau, củ, quả chứa nhiều vitamin C giúp bé tăng cường sức đề kháng và mau khỏi cúm.

Nếu bé bị chảy nước mũi, bạn nên dùng khăn xô (hoặc khăn vải mềm) lau cho bé. Nếu bé bị tắc mũi, bạn có thể dùng nước muối sinh lý hoặc thuốc nhỏ mũi (loại dành riêng cho bé) để nhỏ và làm thông mũi bé.

Nếu bé bị ho, bạn cho bé uống các loại thuốc ho dạng siro nhưng phải tham khảo ý kiến bác sĩ. Việc bạn tự ý mua thuốc trị ho có thể làm tăng thêm tình trạng đau họng ở bé.

Cách phòng tránh

Cảm cúm là một chứng bệnh có khả năng lây lan, vì vậy, bạn nên cách ly bé với nguồn bệnh.

Bạn nên giữ ấm cho bé, nhất là khi trời trở lạnh, ra đường vào buổi tối hoặc khi trời mưa. Chú ý đến phòng tắm của bé phải được kín gió và ấm áp.

Với bé ở độ tuổi ăn dặm, bạn nên cho bé ăn uống đủ chất để chống suy dinh dưỡng, tăng cường sức đề kháng. Thực đơn hàng ngày cho bé nên đảm bảo đủ 3 nhóm: tinh bột, chất đạm và rau xanh.

Việc tiêm phòng cảm cúm cho bé hiện nay còn khá khó khăn và chưa được phổ biến. Lý do là vì giá thành cao và mỗi mũi tiêm phòng của bé chỉ có tác dụng với một số loại virút nhất định trong khi bé vẫn có thể mắc cảm cúm vì một số loại virút khác gây ra.

BS. TRẦN QUỐC NINH

Hạ canxi huyết ở trẻ em

Chứng vẹo cột sống

Vẹo cột sống có thể xảy ra ở mọi độ tuổi, trong đó dễ phát triển nhanh nhất ở tuổi dậy thì. Nhiều trẻ em ở Việt Nam bị vẹo cột sống nhưng không được phát hiện sớm, chỉ đến bệnh viện khám khi tình trạng bệnh đã nặng.

Tại sao cột sống bị vẹo?

Có nhiều nguyên nhân gây vẹo cột sống như bẩm sinh, vẹo cột sống kèm theo các bệnh lý tuỷ sống hay thần kinh cơ (bướu đa sợi thần kinh, hội chứng Marfan, rỗng tuỷ sống, thoát vị hạnh nhân tiểu não, di chứng sốt bại liệt...) hay không rõ nguyên nhân (vô căn). Vẹo cột sống vô căn chiếm đa số trường hợp: 60 - 70%. Đa số trẻ dưới ba tuổi bị vẹo cột sống bẩm sinh hay liên quan bệnh lý, khó điều trị và tiên lượng nặng. Khoảng 20% trẻ vẹo cột sống ở tuổi thiếu nhi (từ 3 - 10 tuổi) có nguyên nhân bệnh lý kèm theo.

 

Sau mười tuổi, đa số là vẹo cột sống vô căn diễn biến nặng cho đến khi dừng lại ở độ tuổi trưởng thành. Vẹo cột sống người lớn là hậu quả của mắc vẹo cột sống lúc nhỏ bị quên lãng hoặc vô căn hay bệnh lý. Phần lớn dị tật cột sống có nguyên nhân vô căn, còn lại là do các yếu tố liên quan đến di truyền, phải lao động sớm, ngồi học không đúng tư thế...

 

 Ngồi học sai tư thế dẫn đến chứng vẹo cột sống.  Ảnh: Thu Hà
Càng nhỏ tuổi nguyên nhân bệnh lý kèm càng nhiều, càng khó điều trị. Vẹo cột sống ở tuổi thanh thiếu niên thường là vô căn, việc điều trị thường cho kết quả tốt dù bảo tồn (giữa 20 - 40 độ vẹo) hay phẫu thuật (trên 40 độ vẹo). Tuy nhiên, bệnh nhân càng đến khám muộn, vẹo càng nặng thì phẫu thuật càng nguy hiểm.

Dấu hiệu phát hiện bệnh sớm

Bình thường cột sống của trẻ thẳng hàng khi nhìn từ cổ xuống lưng và thắt lưng. Nhìn ngang, cột sống hơi cong ở lưng và ưỡn bình thường ở thắt lưng. Nếu bị tật vẹo cột sống, nhìn phía sau khi trẻ đứng thẳng sẽ thấy vai xệ một bên, lồng ngực nhô lên một bên, có thể kèm theo vùng hông - thắt lưng nhô phía bên kia; xương chậu và háng cao hơn bên kia; cột sống lệch sang bên.

 

Cho trẻ cúi thắt lưng, nhìn phía sau sẽ thấy rõ lồng ngực hay hông thắt lưng nhô lên một hay hai bên. Đây là cách khám đơn giản giúp phát hiện các tật vẹo cột sống tương đối sớm mà cha mẹ, người thân đều có thể thăm khám được.

 

Có ba cấp độ vẹo cột sống: Cấp độ 1, cột sống đã lệch nhưng chỉ có thể phát hiện bởi các chuyên gia, chưa ảnh hưởng đến chức năng hô hấp. Cấp độ 2, nhìn từ phía sau đã thấy cột sống cong vẹo, gù xương sườn do đốt sống bị xoay, ảnh hưởng đến chức năng hô hấp nhẹ.

 

Cấp độ 3, nhìn rõ cột sống vẹo lệch sang bên, ảnh hưởng nặng chức năng hô hấp, có thể gây biến dạng khung chậu, khớp háng, chiều dài của lưng - thắt lưng ngắn lại, xương sườn ngực bị biến dạng gây suy hô hấp mạn tính, xuất hiện bệnh tim phổi mạn, các cơ quan trong ổ bụng bị chèn ép...

Điều trị vẹo cột sống cho trẻ

Điều trị vẹo cột sống dựa chủ yếu vào góc vẹo cột sống được khảo sát trên hình ảnh học. Ba cách điều trị:

- Quan sát, theo dõi cho trẻ có góc vẹo dưới 20 độ.

- Cho trẻ có góc vẹo cột sống giữa 20 và 40 độ mang nẹp thân.

- Can thiệp phẫu thuật cho trẻ có góc vẹo trên 40 độ.

Điều quan trọng nhất là, khi phát hiện chứng vẹo cột sống ở trẻ, cần đưa trẻ đến các cơ sở y tế chuyên khoa cột sống hay chấn thương chỉnh hình thăm khám. Đến khám càng sớm, cơ hội cứu chữa càng cao, chi phí điều trị cũng ít tốn kém. Bác sĩ sẽ cho khảo sát kỹ hình ảnh học để chẩn đoán và đánh giá độ vẹo cột sống chính xác hơn và có biện pháp điều trị thích hợp.     

BS. Nguyễn Văn Dũng

Viêm gan siêu vi B: dự phòng sớm để bảo vệ trẻ!

Nhiều ông bố bà mẹ trẻ còn băn khoăn, mù mờ về việc tiêm dự phòng cho trẻ khi bản thân đã phát hiện nhiễm virút viêm gan b. thậm chí, có những trẻ sinh ra đến 2 tuổi mới được cha mẹ đưa đi khám bệnh... vì vô tình phát hiện cả hai vợ chồng đều đã mắc phải căn bệnh nguy hiểm này...

Cuộc điện thoại lúc sáng sớm!

Khoảng 7 giờ sáng một ngày cuối tháng 8, một cô bạn gái học chung đại học đã thất thần gọi điện thoại cho chúng tôi để nhờ hỏi giúp các bác sĩ chuyên khoa gan tư vấn về việc tiêm ngừa viêm gan B cho con gái mới sinh. Số là cô bạn sinh bé gái vào lúc 3 giờ sáng tại một bệnh viện (BV) thuộc quận Thủ Đức nhưng trước lúc sinh, được làm xét nghiệm máu mới phát hiện cô đã bị nhiễm viêm gan B. Các bác sĩ tại BV khuyên gia đình nên chích ngừa cho cháu để tránh cho cháu bé nhiễm bệnh với giá thuốc khoảng gần 2 triệu đồng. Lo cho con nhưng để “chắc ăn”, cô gọi cho chúng tôi nhờ tư vấn. Ngay lập tức, chúng tôi bấm máy “cầu cứu” BS quen biết chuyên khoa gan mật dù chắc chắc ông chưa tới giờ đi làm. Sau khi nghe “bệnh cảnh”, ông nói ngắn gọn: “Cho tiêm ngay đi em! Để hết hôm nay mới tiêm là phí tiền vô ích”. Sau đó, bé gái sơ sinh đã được tiêm dự phòng viêm gan B sau hơn 4 giờ chào đời để tránh nguy cơ sau này có thể bị xơ gan, ung thư gan khi tuổi còn trẻ.

Ngoài huyết thanh chống đặc hiệu, trẻ vẫn phải tiêm ngừa viêm gan B theo lịch tiêm chủng

Bé trai 15 tháng  tuổi tên Ng.A.T (ngụ tại Lâm Đồng) mới được mẹ đưa đến khám tại BV. Nhi Đồng 2 TP.HCM và đã có kết quả xét nghiệm máu dương tính với virút viêm gan B. Mẹ T. vừa ôm con, nước mắt lưng tròng cho biết: “Khổ thân con em! Em mới khám sức khỏe hôm trước thì các BS thông báo mắc bệnh. Đang bàng hoàng không biết vì sao mình lại bị bệnh thì vừa mang kết quả về nhà cho chồng xem, anh ấy đã cúi gằm mặt nhận lỗi!”.

Theo các BS tại BV. Nhi, BV chuyên khoa phụ sản tại TP.HCM, hiện nay, nhiều cặp vợ chồng trẻ có chồng hoặc vợ, nhiều khi cả hai người nhiễm viêm gan B mà không biết cách dự phòng cho bạn đời và cũng không hiểu biết hết cơ chế lây bệnh để tránh cho trẻ khỏi mắc bệnh, dự phòng sớm cho trẻ ngay từ khi trẻ mới chào đời.

24 giờ vàng!

TS.BS. Trương Bá Trung, Phòng khám Gan Mật BV. ĐHYD TP.HCM, cho biết, thời gian tiêm ngừa cho trẻ vừa sinh ra đời có mẹ nhiễm viêm gan B có thể hơn 24 giờ nhưng tốt nhất là tiêm trước thời gian này. Đây có thể coi như “24 giờ vàng” để tiêm dự phòng cho trẻ. Theo BS. Trung, thông thường tất cả các trẻ sơ sinh sẽ được tiêm vắc-xin ngừa viêm gan B (và nhiều bệnh khác- PV) và tiêm miễn phí. Tuy nhiên, nếu mẹ bị viêm gan siêu vi B thì trẻ sơ sinh được tiêm huyết thanh đặc hiệu chống siêu vi B ngay trong phòng sinh. Và tiêm vắc-xin phòng viêm gan B cho trẻ theo đúng lịch tiêm chủng.

Theo các chuyên gia y tế, bệnh viêm gan B lây truyền từ mẹ sang con đang chiếm tỉ lệ cao nhất (lớn hơn cả lây qua đường truyền máu, quan hệ tình dục cộng lại). Khi phụ nữ mang thai bị nhiễm virút viêm gan B có thể truyền sang bào thai. Trong giai đoạn 3 tháng đầu của thai kỳ thì tỉ lệ lây nhiễm từ mẹ sang con là 1%, nếu mẹ bị bệnh ở 3 tháng giữa của thai kỳ thì tỉ lệ lây nhiễm sang con là 10% và nếu mẹ bị mắc bệnh ở 3 tháng cuối của thai kỳ thì tỉ lệ lây nhiễm có lên tới 60 - 70%. Nếu không có biện pháp bảo vệ ngay sau khi sinh thì nguy cơ truyền bệnh cho thai nhi có thể lên tới 90%. Đáng chú ý, 50% số trẻ này sẽ bị viêm gan mạn tính và có nguy cơ bị xơ gan lúc trưởng thành.  Để hạn chế lây nhiễm và tác động xấu của bệnh cho trẻ, các BS khuyến cáo thai phụ bị viêm gan B nếu không muốn lây sang con thì phải điều trị bệnh ổn định trước khi mang thai và tiêm phòng cho trẻ ngay sau sinh.

Việc bà mẹ mắc bệnh viêm gan B không ảnh hưởng đến quá trình mang thai cũng như làm bệnh của thai phụ trở nặng thêm. Thai nhi cũng sẽ phát triển bình thường, không bị dị tật. Tuy nhiên, khi bệnh bặng ở giai đoạn III, thai phụ nên cân nhắc việc mang thai vì nguy cơ sinh non.

 “Nhiều ông bố, bà mẹ trẻ rất đáng trách khi không biết mình đã mắc bệnh viêm gan B nên không có biện pháp điều trị cho bản thân và dự phòng cho trẻ. Vì vậy, nên khám sức khỏe tiền hôn nhân và xét nghiệm trước lúc mang thai để BS có thể tư vấn kịp thời việc phòng ngừa bệnh thai nhi. Không riêng viêm gan B mà còn nhiều bệnh khác nữa!” – một BS BV Phụ sản Hùng Vương cho biết.

Bài và ảnh Tiến Tuân


Bạn đã biết cách chăm sóc răng miệng cho bé yêu

Ai cũng luôn mong muốn bé yêu của mình có được hàm răng chắc khỏe, trắng bóng và biết cách tự vệ sinh răng miệng. Trong khi đó, cuộc sống bộ...