Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Những bệnh tiêu hóa thường gặp ở trẻ nhỏ

Trẻ nhỏ dễ mắc phải những căn bệnh về đường tiêu hóa, trong đó có một số bệnh thường gặp dưới đây, do các chuyên gia Trung tâm Kiểm soát và Phòng chống dịch bệnh Mỹ (CDC) tư vấn kèm theo những khuyến cáo về phòng ngừa.

1. Táo bón

Do hệ thống tiêu hóa còn non trẻ lại đang trong giai đoạn phát triển và hoàn thiện nên trẻ dễ mắc bệnh táo bón. Bệnh táo bón trẻ em là căn bệnh rối loạn tiêu hóa, làm cho các bậc cha mẹ lo lắng. Trẻ bị táo bón thường có dấu hiệu khó đại tiện, đau khi đi đại tiện, chất thải cứng và khô. Theo nghiên cứu thì nguyên nhân gây táo bón là do thiếu chất xơ trong chế độ dinh dưỡng, do tác dụng phụ của các loại thuốc chữa bệnh, do viêm nhiễm, do thiếu nước... Ngoài ra còn do yếu tố thần kinh. Ví dụ rối loạn cảm xúc, sợ sệt, stress cao cũng là nguyên nhân dễ gây bệnh.

Giải pháp: khi trẻ còn nhỏ nên cho trẻ uống nhiều nước nhưng không cho uống nước sô-đa, nước ngọt, nên dùng nước hoa quả pha loãng với sữa, tăng lượng chất xơ trong chế độ ăn uống hàng ngày, nên cung cấp đủ dưỡng chất trong chế độ ăn uống hàng ngày. Nên đưa trẻ đi khám bác sĩ, không nên tự mua thuốc về dùng để hạn chế những sự cố không mong muốn có thể xảy ra.

2. Bệnh tiêu chảy

Trẻ thường mắc phải bệnh tiêu chảy, đặc biệt là bệnh tiêu chảy cấp, tiêu chảy kéo dài. Nguyên nhân là do viêm nhiễm virút hoặc vi khuẩn. Bệnh tiêu chảy có thể là cấp tính hoặc mạn tính, được xác định là đi đại tiện trên 3 lần/ngày kéo theo dấu hiệu đau bụng, buồn nôn, đầy hơi, mất nước. Ở thể cấp tính các triệu chứng thường kéo dài 1 - 2 ngày, còn ở dạng mạn tính thì ít nguy hiểm nhưng lại kéo dài hơn.

Giải pháp: tuy bị tiêu chảy nhưng hệ thống tiêu hóa vẫn hấp thụ nước bình thường vì vậy nên cho trẻ uống đủ nước, nhất là dùng dung dịch ORS (Oresol), gói hydrite pha dung dịch này theo hướng dẫn của bác sĩ. Nếu nước pha 12 giờ không dùng hết nên bỏ đi. Nếu số lần tiêu chảy 2 - 3 lần/ngày có thể bù nước bằng nước thông thường hoặc nước ép trái cây và ăn uống đủ 4 nhóm thực phẩm là chất bột, chất béo, đạm và rau, cho trẻ ăn thịt nhiều mỡ, nên dùng sữa không có đường lactose theo khuyến cáo của bác sĩ.

Phòng ngừa: nên ăn chín uống sôi, dùng nguồn nước sạch, rửa tay sạch khi chăm sóc bé, không cho trẻ tiếp xúc với người đang mắc bệnh tiêu chảy, không sử dụng thuốc kháng sinh bừa bãi. Nếu ở thể nặng nên đưa trẻ đi khám và điều trị theo phác đồ của bác sĩ.

3. Bệnh IBS

Bệnh IBS (Irritable Bowel Syndrome) là Hội chứng ruột kích thích, xuất hiện những dấu hiệu bất thường của đường ruột, còn có tên gọi khác là đau dạ dày thần kinh hoặc đại tràng co thắt,  nhưng nó lại không ảnh hưởng lớn đến sức khỏe. Đến nay khoa học vẫn chưa rõ nguyên nhân nên việc điều trị còn hạn chế, mới chỉ tình nghi đến thực phẩm như sữa, cà phê, thức ăn nhiều mỡ đặc biệt là thức ăn nhanh, gia vị cay nóng. Hội chứng IBS thường có ít nhất hai triệu chứng như đau bụng, đi ngoài, hoặc đau bụng khó chịu kèm theo táo bón. Do không có phương pháp xét nghiệm cụ thể nên người ta thường thử máu, thử phân, siêu âm, chiếu chụp X-quang để chẩn đoán các chứng bệnh khác về đường ruột. Do không cần điều trị nên hội chứng IBS có thể phòng ngừa để giảm bệnh như thay đổi chế độ ăn uống, cho trẻ ăn nhiều bữa, tránh dùng chất kích thích, cay nóng, duy trì cuộc sống không stress, giúp trẻ giảm áp lực trong môi trường sống, duy trì cuộc sống vận động. Tuy bệnh không đe dọa đến tính mạng nhưng cũng nên đưa trẻ đi khám để biết cụ thể nguyên nhân và điều trị đồng thời những căn bệnh mà trẻ mắc phải.

4. Hội chứng nôn ói theo chu kỳ

Hội chứng nôn ói theo chu kỳ ở trẻ em (CVS) là căn bệnh kỳ lạ mà đến nay khoa học vẫn chưa hiểu hết nguyên nhân. Nó được mô tả là nôn ói đột ngột kéo dài vài giờ cho đến vài ngày và sau đó lại tái phát. Đặc tính và thời gian của từng chu kỳ nôn ói này rất giống nhau. Tại Anh có một bé gái tên là Alisha Atkinson mắc phải hội chứng CVS rất nghiêm trọng từ năm lên 6 tuổi, mỗi ngày nôn ói đến vài chục lần. Do chưa tìm được nguyên nhân nên người ta mới chỉ kê đơn để kiểm soát việc nôn ói. Ngoài ra, bác sĩ khuyên những người mắc bệnh cần được nghỉ ngơi, ngủ đủ, ăn uống đủ chất và hạn chế gây căng thẳng.

Nôn ói thường gặp trong rối loạn tiêu hóa ở trẻ nhỏ

5. Bệnh GERD

GERD (Gastrooesophageal Reflux Disease) là bệnh trào ngược dạ dày - thực quản hay còn gọi là chứng ợ nóng, ợ chua. Đặc thù của bệnh là thực quản bị viêm tấy dưới tác động của acid từ dạ dày đưa lên. Dạ dày là nơi sản xuất ra acid clohydric (HCL) để làm nhiệm vụ tiêu hóa thực ăn. Các cơ  thực quản làm nhiệm vụ co giãn để ngăn không cho thức ăn trào ngược nhưng ở những người mắc bệnh cơ thực quản không làm đúng chức năng nên acid trào ra  gây tổn thương lớp niêm mạc của thực quản. Rất nhiều nguyên nhân gây bệnh GERD nhưng chủ yếu vẫn là do ăn uống, ăn quá nhiều trước khi đi ngủ, mắc bệnh thoát vị hoành do stress hoặc cả những nguyên nhân khoa học chưa biết  hết. Chứng ợ chua có thể kéo dài tới 2 giờ, gây cảm giác đau rát ở giữa ngực, xuống ức, ợ ra mùi đắng trong khi ngủ hoặc khi cười nói và gây khó thở.

Giải pháp: nên duy trì ăn uống khoa học, nếu bệnh nặng cần đi khám bác sĩ, tư vấn và điều trị để khỏi gây ảnh hưởng đến sức khỏe và tương lai của trẻ.

KHẮC HÙNG (Theo BC)


Tiêm chủng

Ban nhiệt mùa nóng

Ban nhiệt là tổn thương da phổ biến ở trẻ em vào mùa hè. Thống kê cho thấy, khi thời tiết nóng bức như hiện nay cứ 10 trẻ đã có 2-3 trẻ nổi ban nhiệt.

Bệnh xảy ra ở mọi tuổi nhưng thường gặp ở những trẻ nhỏ được ủ kỹ, trẻ sơ sinh nằm than, trẻ năng động chạy nhảy nhiều. Đáng lưu ý là người nhà thường tự điều trị theo kinh nghiệm như đắp lá cây giã, đắp đậu xanh nhai nát, bôi nhớt gà, kiêng nước, cữ tắm... làm bệnh lâu lành, thậm chí có biến chứng nguy hiểm.

Trị ban nhiệt bằng đắp lá cây  

Bé trai Võ Tuấn B.M., 6 tháng tuổi, nhà ở Tiền Giang, nhập bệnh viện Nhi Đồng 1 vì sốt cao, da nhiều mụn mủ. Bé bị nổi ban nhiệt ở da đã 3 tuần, những nốt nhỏ đỏ ngứa nhiều, xuất hiện rải rác trên da cổ và ngực. Người nhà đã đưa đi khám bệnh nhưng không yên tâm nên mẹ bé đã hái lá cây giã nát đắp thêm lên những vùng da này cho mau hết. Bằng cách này các nốt đỏ da không giảm mà nổi nhiều hơn, dai dẳng không hết, trở thành rất nhiều cục cứng, đỏ đau, đỉnh có mủ vàng nhạt lan rộng khắp đầu cổ, ngực, lưng và cả hai cánh tay. Đến khi da toàn thân bị ửng đỏ lên, bé sốt cao, mệt nhiều người nhà mới đưa đi bệnh viện. Khám bệnh và làm xét nghiệm cho kết quả cháu bị ban nhiệt biến chứng nhiễm trùng nặng. Phải điều trị kháng sinh tiêm, phối hợp với rạch thoát mủ và chăm sóc da tích cực bé mới hạ sốt, da hết nhiễm trùng và lành lặn lại.

 Hình ảnh ban nhiệt trên da trẻ
Ban nhiệt xuất hiện khi trẻ đổ mồ hôi nhiều

Ban nhiệt là tình trạng da bị phát ban do viêm tấy, nổi những hạt nhỏ li ti hoặc mảng màu hồng, xảy ra khi trẻ đổ mồ hôi nhiều hơn bình thường. Nguyên nhân do các lỗ chân lông bị bít kín, tuyến mồ hôi bị tắc nghẽn do tế bào chết của da hoặc vi trùng. Ban nhiệt xuất hiện ở nhiều vị trí khác nhau trên cơ thể, thường gặp ở những vùng mồ hôi tiết ra nhiều như trán, cổ vai, lưng, ngực, vùng tã lót, các nếp gấp của cơ thể gây ngứa nhiều từng cơn. Bệnh xuất hiện trong vài ngày và hết nhanh khi nhiệt độ môi trường cải thiện, lúc trẻ ngừng đổ mồ hôi. Nếu không được điều trị thích hợp tổn thương ở da sẽ lâu lành, lan rộng gây kiệt sức hoặc bị nhiễm trùng trở thành mụn mủ, gây biến chứng nặng toàn thân. Tùy mức độ tắc nghẽn ống tuyến mồ hôi nông hay sâu có 3 dạng ban nhiệt:

Ban hạt kê còn gọi là ban bạch, thường gặp ở trẻ sơ sinh, gồm những bóng nước trắng li ti xuất hiện từng đám, không viêm cũng không đỏ xung quanh. Ban hạt kê ít gây ngứa và thường biến mất trong vài giờ đến vài ngày.

Ban kê đỏ còn gọi là rôm sảy là dạng thường gặp nhất ở trẻ em. Đây là loại ban ngứa xuất hiện phổ biến vào thời tiết nóng bức, khi các ống tuyến mồ hôi bị tắc ở mức độ sâu hơn lớp thượng bì. Da đỏ lên, xuất hiện rất nhiều bóng nước rời rạc hoặc thành từng chùm dạng đốm lấm tấm đỏ trên da, gây cảm giác như bị kim châm chích hoặc rát ngứa dữ dội từng cơn. Trẻ bệnh thường gãi nhiều, khó chịu và hay quấy khóc.

Ban kê sâu hay ban kê mủ là dạng ít gặp. Xảy ra khi trẻ bị nhiều đợt rôm sảy tái đi tái lại. Nguyên nhân do sự tắc nghẽn phần sâu hơn của tuyến mồ hôi, da bị viêm sâu hơn, có tình trạng sưng viêm và nhiễm trùng thứ phát. Ban lúc này là những mụn cứng, màu sậm hơn. Dạng này cũng ít ngứa hơn rôm sảy nhưng nguy hiểm vì dễ dẫn đến kiệt sức do nhiệt.

Biến chứng nhiễm trùng do chăm sóc không đúng 

Biến chứng thường gặp ở trẻ bị ban nhiệt là nhiễm trùng da thứ phát do trẻ gãi ngứa nhiều trong điều kiện vệ sinh kém hoặc do những biện pháp điều trị không đúng như đắp lá cây giã, đắp đậu xanh nhai nát, bôi nhớt gà, kiêng nước, cữ tắm. Qua nang lông hay chỗ xây xát ngoài da khi trẻ ngứa gãi, các vi trùng thường trú, tạm trú trên da hay vi trùng cơ hội sẽ vào sinh sản ở đó, phát huy độc tính gây nhiễm trùng tạo thành ổ mủ. Da bị nhiễm trùng sưng nóng đỏ lên, thành cục cứng gây đau nhức do sự hiện diện của mủ ở sâu bên dưới, tạo abces, viêm mạch bạch huyết, viêm hạch.  Diễn tiến nặng khi vi trùng vào máu gây nhiễm trùng huyết, sốc nhiễm trùng hoặc đến gây tổn thương các cơ quan khác như màng não, tim, tủy xương, phổi.

Dùng thuốc theo hướng dẫn của bác sĩ

Cách chăm sóc đúng tại nhà bằng cách giữ cho da trẻ mát, sạch và khô để giảm ngứa và giảm các kích thích ở da:

- Tránh đổ mồ hôi nhiều: cho trẻ ở nơi thông thoáng, mát mẻ. Ngủ dưới quạt nhẹ. Nếu được cho trẻ ở phòng máy lạnh vào thời gian nóng trong ngày. Hạn chế trẻ chạy nhảy quá nhiều ngoài trời nắng nóng.

- Vệ sinh da hàng ngày: tắm rửa cho trẻ chú ý các vùng da cọ xát, các nếp kẽ. Chọn loại xà phòng kháng khuẩn để làm giảm lượng vi trùng lưu trú trên da.

- Cho trẻ mặc quần áo rộng rãi, bằng chất liệu mỏng và thấm mồ hôi. Thay tã giấy (bỉm) thường xuyên. Cắt ngắn móng tay trẻ để tránh gãi ngứa.

- Cho trẻ uống nhiều nước. Ăn đầy đủ các chất như: rau quả, vitamin và chất khoáng. Tránh thức ăn cay, mặn, thức uống nóng.

- Nếu vùng da bị ban nhiệt có trầy loét, chảy nước, cần thoa thuốc tại chỗ theo hướng dẫn của bác sĩ. Không bôi phấn rôm lên vùng da bị tổn thương.

Đưa trẻ đi khám bệnh khi:

- Nghi ngờ bị bội nhiễm: trẻ gãi ngứa nhiều hơn, vùng da phát ban lan rộng, có dấu sưng đỏ, đau, có mủ hoặc đóng mày.

- Trẻ bị sốt, mệt nhiều hơn, hoặc ban nhiệt không giảm sau 3 ngày.

Giữ cho da trẻ mát, sạch và khô

Để bảo vệ làn da của trẻ nhỏ mùa nắng nóng các bậc phụ huynh nên lưu ý làm dịu, mát da trẻ bằng cách cho trẻ chơi, ngủ ở nơi mát mẻ. Mặc quần áo rộng rãi, bằng vải thấm mồ hôi. Tránh ủ kỹ. Khi trẻ nổi ban nhiệt phải chăm sóc đúng và theo dõi cẩn thận, không tự ý điều trị theo kinh nghiệm.

BS.CK II. NGUYỄN THỊ KIM THOA

Bệnh do giun sán

(suckhoedoisong.vn) - Nhiễm giun, sán là tình trạng khá phổ biến ở các nước đang phát triển trong vùng nhiệt đới, do khí hậu nóng ẩm, tập quán ăn uống, vệ sinh môi trường kém. Theo Tổ chức Y thế Thế giới (WHO) 75% người Việt Nam (tương đương 60 triệu người) mắc bệnh giun sán, có đến 70-90% trẻ em nhiễm giun. Trong phạm vi bài viết này chỉ đề cập đến một số nét cơ bản về các bệnh do ký sinh trùng đường ruột gây ra còn chiếm tỷ lệ cao ở Việt Nam như lỵ amíp, bệnh do giun và sán.

Bệnh do amip

Đây là bệnh do nhiễm đơn bào Entamoeba histolytica, là một bệnh xuất hiện toàn thế giới nhưng chủ yếu xuất hiện ở các nước nhiệt đới có điều kiện vệ sinh thấp kém. Bệnh gây ra các tổn thương đặc trưng là loét ở niêm mạc đại tràng và có khả năng gây ra các ổ abces ở những cơ quan khác nhau. Bệnh có xu hướng kéo dài và mạn tính nếu không được điều trị tích cực.

Bệnh lây qua đường tiêu hóa do thức ăn, nước uống nhiễm kén amip.

Biểu hiện giai đoạn cấp là đau bụng, đại tiện nhiều lần 5 – 15 lần/ ngày phân ít hoặc không có, nhiều nhầy mũi máu, đau quặn bụng, đau rát hậu môn, sốt nhẹ; biểu hiện giai đoạn muộn chủ yếu là các triệu chứng đau dọc khung đại tràng, rối loạn tiêu hóa với các đợt táo lỏng xen kẽ; kèm theo có các đợt bùng phát lan tỏa giống giai đoạn cấp. Điều trị hiện nay chủ yếu dùng nhóm imidzole.

 Cho trẻ uống thuốc tẩy giun định kỳ.
Nhiễm giun

Giun kim: là loại giun tròn Enterobius vermicularius dài 1 – 1,5cm, sống ở đoạn cuối hồi tràng và manh tràng; giun cái mang trứng và đẻ ở trực tràng. Giun này chủ yếu gây nhiễm cho trẻ em ở các khu vực tập thể. Nhiễm do thức ăn hoặc nước bẩn có chứa trứng giun, nhiễm tự nhiên ở trẻ em theo đường phân – tay – miệng. Điều trị bằng Mebendazole, flubendazole hoặc albendazole.

Giun đũa: Bệnh do nhiễm loại Ascaris lumbricoides. Giun trưởng thành, sống ở ruột non từ nhiều tháng đến 1 năm rưỡi. Giun cái đẻ trứng theo phân ra ngoài. Lây nhiễm do ăn hoặc uống nước có nhiễm trứng giun đũa. Thời kỳ giun trưởng thành với các biểu hiện rối loạn tiêu hóa không đặc hiệu đau bụng, buồn nôn, nôn khan; ngoài ra giun có thể chui lên ống mật gây đau, viêm đường mật, viêm tụy cấp, tắc ruột… Điều trị bằng Mebendazole, flubendazole hoặc albendazole.

Giun móc: Giun trưởng thành dài 1 – 2 cm sống ở tá tràng và hỗng tràng, chúng hút máu khoảng 0,2ml/ngày, sống trung bình 5 năm do đó gây ra tình trạng thiếu máu nhược sắc nặng. Điều trị bằng Mebendazole, flubendazole hoặc albendazole.

Nhiễm sán

Sán sơ mít: gồm Taenia saginata và Taenia solium, đây là loại giun dẹt có đốt, dài 6 – 10m; sán trưởng thành sống ở ruột non, mỗi đỗt chứa trứng ra ngoài được bò hoặc lợn ăn. Người ăn thịt lợn hoặc bò này không được nấu chín sẽ mắc bệnh. Điều trị bằng Nicosamid hoặc praziquantel.

Sán lá gan lớn: do nhiễm loài sán Fasciola hepatica. Sán trưởng thành sống trong đường mật của bệnh nhân, đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài, phát triển thành các mao ấu trùng, đóng kén vào các cây sống dưới nước, người ăn phải chúng sẽ vào ống tiêu hóa, đến gan và phát triển trong đường mật. Điều trị đặc hiệu bằng bithionol.

Sán lá gan nhỏ: con trưởng thành sống ở đường mật, đôi khi sống trong ống tuỵ. Trứng nở trong nước hoặc được ốc ăn vào sẽ nở thành ấu trùng, ấu trùng thâm nhập vào cá, đóng nang, người ăn phải loại cá này chưa nấu chín (chủ yếu do tập quán ăn gỏi cá) sẽ mắc bệnh. Điều trị chủ yếu bằng praziquantel.

 Nghịch đất, cát là nguyên nhân dẫn đến nhiễm giun ở trẻ.
Cách phòng và chữa bệnh giun sán:

Giữ vệ sinh thân thể, vệ sinh ăn uống cho trẻ. Rửa tay sạch trước khi ăn, lau dọn nhà cửa sạch sẽ.

Tập cho trẻ thói quen rửa tay chân sạch sẽ trước khi ăn.

Thức ăn cho trẻ phải luôn luôn nấu chín, nước uống phải được đun sôi để nguội. Nếu cho trẻ ăn trái cây hoặc rau sống thì phải rửa bằng dung dịch rửa rau quả, khử trùng bằng máy ozon, thuốc tím hoặc ngâm muối và rửa lại nhiều lần dưới vòi nước đang chảy.

Không để trẻ nằm, bò trườn dưới đất, không để trẻ mặc quần bị thủng đít.

Vệ sinh tay chân, cắt móng tay, móng chân sạch sẽ, không đi chân đất.

Quần áo của trẻ bị nhiễm giun cũng phải được phơi ở những nơi nhiều nắng để diệt trứng giun.

Uống thuốc sổ giun định kỳ 6 tháng một lần. Loại thuốc thường cho trẻ uống là piperazin. Ngoài ra còn có thể uống tẩy giun bằng phương pháp dân gian bằng hạt bí ngô hoặc dương xỉ đực, nước sắc hạt cau…

Tất cả mọi người trong gia đình, kể cả người lớn đều phải chữa trị cùng một lúc với cháu bé thì mới trị hết được.

Đối với trẻ đã tẩy giun rồi mà vẫn còn xanh xao, gầy yếu, kém ăn, cần phải kiểm tra xem có loại giun sán gì khác nữa không, hoặc có thể trẻ bị bệnh khác như còi xương, suy dinh dưỡng, sơ nhiễm lao… để chữa trị cho đúng hướng.

ThS. BS. Nguyễn Bạch

Bệnh giun sán

Ngộ độc chì, mối nguy rình rập với trẻ

Những thông tin gần đây rộ lên việc ngộ độc chì xảy ra ở trẻ em. Mới đây, Bộ Y tế ra thông báo báo động ngộ độc chì do trẻ được dung thuốc “cam” đang lan rộng…

Giữa năm 2011, Chi cục tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng thuộc Sở Khoa học & Công nghệ Lâm Đồng cho biết, các mẫu cốc thủy tinh có nguồn gốc từ Trung Quốc mà đơn vị này kiểm tra đều có hàm lượng chì cao gấp hàng nghìn lần so với quy định cho phép. Gần đây, Viện Dinh dưỡng Quốc gia cũng công bố rau muống, thịt lợn, gạo... và một số thực phẩm khác cũng có hàm lượng chì vượt quá mức cho phép của Bộ Y tế. Còn ở TP.HCM, Chi cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng TP cho biết đã phát hiện trong sơn phủ đồ chơi cờ tướng của trẻ em chứa hàm lượng chì đến 835mg/kg, trong khi giới hạn lớn nhất cho phép đối với độc chất này là 90mg/kg (vượt ngưỡng đến hơn 9 lần). Ngày 4/11/2011, bệnh viện Nhi Trung Ương cho biết có 4 trẻ dưới 1 tuổi bị ngộ độc nặng suýt nguy đến tính mạng do cha mẹ dùng thuốc Đông y bôi ngoài da gọi là “thuốc cam” bôi chữa các nốt nhiệt hoặc vết viêm ở miệng của trẻ.

Các thông tin vừa kể cho thấy ngộ độc chì do tiếp xúc với sản phẩm có dư lượng chì quá cao là mối nguy đang rình rập người dân, đặc biệt gây ngộ độc cho trẻ là đối tượng rất dễ bị nhiễm độc chì.

Chì và ngộ độc chì

Chì là một kim loại mềm màu xám, ký hiệu hóa học là Pb. Đặc biệt, chì tạo nhiều hợp chất có màu sắc khác nhau (như muối chì cromat có màu vàng rất đẹp) nên thường được dùng trong pha sơn, kỹ nghệ thủy tinh, làm chất màu cho đồ gốm... Chính được dùng đa dạng như vậy nên nếu không có có biện pháp xử lý an toàn thì chì có thể gây ngộ độc. Từ lâu trong ngành Dược đã xảy ra tai biến ngộ độc chì do bào chế dịch truyền natri clorid đẳng trương (thường gọi là nước biển dùng truyền dịch trong bệnh viện) đựng trong chai thủy tinh có pha chì (chì thôi ra làm hại người bệnh). Trong công tác kiểm nghiệm dược phẩm có việc bắt buộc là thuốc đưa ra sử dụng phải tuyệt đối không được chứa kim loại nặng (chì và thủy ngân là điển hình). Từ lâu, cũng đã xảy ra ngộ độc do trẻ em ngậm đồ chơi có pha chì. Đặc biệt, ngộ độc chì kinh niên (còn gọi ngộ độc trường diễn) có thể xảy ra do: ăn các thực phẩm đóng hộp hàn bằng thiếc lẫn chì; uống nước dẫn qua đường ống pha chì; hít phải bụi chì và các hợp chất của nó trong các nhà máy sản xuất sơn, làm bình “accu” (ở ta đã xảy ra khá nhiều vụ ngộ độc này, trong đó có trẻ bị ngộ độc do sống cạnh nơi sản xuất bình accu), mạ kim loại, khai thác chì và đúc chữ in bằng chì; nhân viên tiếp xúc với xăng dầu chứa Pb(C2H5)4 (được xem là chì hữu cơ).

Người ta ghi nhận, lượng dư trên 200mcg chì/ngày trong môi trường tiếp xúc gây nguy hiểm cho hoạt động sống của con người. Còn nếu lượng dư khoảng 1mg/ngày có thể gây ngộ độc chì trường diễn và nguy hiểm nhất chính là ngộ độc chì trường diễn.

Về độc tính, các muối chì đều rất độc và độc tính của nó rất phức tạp. Khi vào cơ thể, chì tích lũy trong các mô nhiều mỡ như não, gan, hoặc mô nhiều sừng như da, lông, tóc, móng. Chì có tác dụng gây hại lên các hệ thống men cơ bản, nhất là men hemosynthetase trong quá trình vận chuyển tổng hợp heme là chất tạo ra hemoglobin (tức huyết sắc tố tạo màu đỏ hồng cầu có nhiệm vụ cực kỳ quan trọng trong hô hấp). Nếu chì hiện diện trong máu trên 0,3ppm sẽ ngăn cản quá trình oxy hóa glucose tạo ra năng lượng duy trì sự sống nhưng nếu hàm lượng chì/máu trên 0,8ppm sẽ gây thiếu máu do thiếu hụt hemoglobin theo cơ chế vừa kể. Thiếu máu có thể xem là dấu hiệu đầu tiên trong nhiễm độc chì.

Triệu chứng ngộ độc chì và cách điều trị

Triệu chứng ngộ độc cấp chì: Khi uống phải muối chì sẽ xuất hiện một số dấu hiệu ngộ độc cấp như: rát miệng, nôn, đau bụng, ỉa phân đen sau đó táo bón, có thể bị vô niệu do thận bị tổn thương, tăng urê huyết… Trường hợp ngộ độc chì trường diễn: xuất hiện vành đen ở lợi miệng rất sớm, người có thể có dấu hiệu thần kinh như thay đổi tính tình, dễ cáu gắt, nhức đầu, hoang tưởng ảo giác. Để chẩn đoán ngộ độc chì trường diễn cần chú ý lượng chì có tự nhiên trong cơ thể: mức trung bình của chì trong máu 0,06mg/100ml, trong nước tiểu 24 giờ: 0,08mg. Nếu hàm lượng chì có trong máu hoặc nước tiểu quá cao có nghĩa đã ngộ độc chì.

Điều trị ngộ độc cấp: rửa dạ dày bằng dung dịch natri hoặc magie sulfat. Cho uống thuốc chống độc kim loại nặng. Có thể tiêm truyền tĩnh mạch dung dịch natri clorid đẳng trương có chứa Ca EDTA (là chất giải độc chì).

Cách phòng ngừa

Để tránh nhiễm độc chì cần phải chú ý cải thiện điều kiện làm việc, giảm thiểu lượng bụi chì và hợp chất của nó xâm nhập vào cơ thể, kiểm tra sức khỏe định kỳ cho công nhân tiếp xúc với chì  6 tháng 1 lần. Đặc biệt, các cơ quan quản lý chức năng cần thường xuyên kiểm tra dụng cụ đồ dùng sinh hoạt (như cốc thủy tinh, đồ nhựa chén bát, đồ chơi trẻ em… in hình màu mè sặc sỡ) đang lưu hành xem có đạt tiêu chuẩn không được chứa chì quá giới hạn cho phép.

Riêng đối với trẻ em, các bậc cha mẹ  cần nâng cao ý thức bảo vệ trẻ bị nhiễm độc chất từ việc lựa chọn đồ chơi cho trẻ. Tốt nhất không chọn đồ chơi sơn phủ màu sắc sặc sỡ, lòe loẹt. Cần có sự nghi ngờ đồ chơi cho trẻ càng có nhiều màu sắc “bắt mắt” càng có nguy cơ chứa chất phủ là độc chất của chì. Trẻ chơi đồ chơi bị nghi ngờ ấy không thu nhiều về sự giải trí và giáo dục mà chỉ có hại do không quản lý tốt về chất lượng. Riêng thuốc Đông y cũng có những độc chất như trong thuốc Tây y; vì vậy, phải thật cẩn trọng khi sử dụng, không nên nghe lời truyền miệng, đồn đại về một toa thuốc, vị thuốc nào đó rồi tự tiện, sử dụng lâu dài - trong khi chưa biết trong toa ấy có chứa độc chất hay không. Cũng đừng quá tin vào cái nhãn hiệu “gia truyền” mà giao phó sức khỏe cho những người không được đào tạo chuyên môn hay hành nghề y học cổ truyền không theo sự quản lý của ngành y tế.

PGS.TS. NGUYỄN HỮU ĐỨC

Khi trẻ bị rối loạn tiêu hóa

(suckhoedoisong.vn) - Rối loạn tiêu hóa ở trẻ em là một trong những bệnh lý khiến các bậc phụ huynh luôn phải quan tâm lo lắng. Có em thì bị táo bón kéo dài, có em lại bị đi ngoài sống phân, tiêu chảy… Vì sao lại thế và làm thế nào để khắc phục?

Nguyên nhân dẫn đến rối loạn tiêu hóa ở trẻ em

Nói về nguyên nhân gây rối loạn tiêu hóa thì có nhiều, nhưng đối với trẻ em thì những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng này là do trẻ chưa ý thức được vấn đề vệ sinh cơ thể, vệ sinh ăn uống, nề nếp sinh hoạt và sự lây nhiễm qua tiếp xúc. Đặc biệt là đối với học sinh thì những rối loạn tiêu hóa thường gặp là táo bón và tiêu chảy cấp.

Ảnh minh họa (nguồn Internet)

Táo bón

 

Táo bón là một trong những triệu chứng rất phổ biến của bệnh lý hệ thống tiêu hoá và cũng là triệu chứng xuất hiện trong rất nhiều bệnh lý khác trong cơ thể. Tuy chỉ là triệu chứng nhỏ không ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống nhưng gây nhiều phiền toái cho bệnh nhân và nếu táo bón xảy ra kéo dài ở trẻ em, rất dễ dẫn tới các tổn thương thực thể của đại trực tràng nếu không được điều trị kịp thời.

Có rất nhiều nguyên nhân gây táo bón như sau sốt cao, do dùng thuốc; do thói quen đi đại tiện không đều; do chế độ ăn nhiều đạm, ít chất xơ, do căng thẳng thần kinh, do tổn thương trong ống tiêu hóa... tuy nhiên ở trẻ em trong độ tuổi đi học thường táo bón do một vài nguyên nhân sau: chứng táo bón do chế độ ăn không đủ nước và chất xơ. Những trẻ ăn chế độ ăn đặc biệt với thức ăn nhanh - giàu chất béo (thịt rán, sữa trứng khuấy sẵn) và đường (kẹo, nước ngọt nhiều đường) có thể bị táo bón thường xuyên hơn. Thường thì chứng táo bón xuất hiện sau khi trẻ trải qua một thời gian viêm nhiễm, không khỏe.

 

Trong khi bị ốm, trẻ thường không uống đủ lượng nước cần thiết khiến chất thải trở nên rắn và rất khó di chuyển. Những chất thải này sẽ gây xước hậu môn và là nguyên nhân gây ra bệnh nứt hậu môn. Stress cũng có thể dẫn tới táo bón, trẻ có thể bị táo bón khi chúng lo lắng về điều gì đó, chẳng hạn như khi trẻ bắt đầu đi học ở trường mới hoặc khi trẻ gặp vấn đề gì đó ở nhà. Trẻ lười đi vệ sinh, thậm chí ngay cả khi trẻ có “nhu cầu”. Tuy nhiên đây lại là một nguyên nhân ít được để ý đến.

Một số trẻ bị táo bón do mắc phải hội chứng ruột kích thích (IBS), có thể xảy ra khi trẻ bị stress hoặc khi trẻ ăn phải thức ăn nào đó, thường là thức ăn quá nhiều chất béo hoặc gia vị. Tuy nhiên cũng cần chú ý trong một số trường hợp, táo bón kéo dài có thể là dấu hiệu của một bệnh lý thực thể nào đó như dài đại tràng, trĩ… vì vậy cần đưa trẻ đến bác sĩ để thăm khám nếu táo bón kéo dài.

Tiêu chảy cấp

Người lớn nên quan tâm tới vấn đề tiêu hóa của trẻ để có biện pháp can thiệp kịp thời, tránh những biến chứng có hại cho sức khỏe của trẻ. Điều quan trọng là cần đưa trẻ đến gặp bác sĩ khi trẻ gặp rối loạn tiêu hóa để được khám, chẩn đoán và có biện pháp điều trị thích hợp.

Cũng giống như ở người lớn, nguyên nhân gây tiêu chảy cấp ở trẻ em thường gặp nhất là do nhiễm trùng, đây là loại tiêu chảy gặp khắp nơi trên thế giới đặc biệt ở các nước kém phát triển, đồng thời là nguyên nhân gây suy dinh dưỡng và tử vong cao ở trẻ em. Sở dĩ nguyên nhân gây tiêu chảy cấp chủ yếu do nhiễm khuẩn vì điều kiện vệ sinh thấp kém, môi trường ô nhiễm, thiếu nước sạch, ăn ở đông đúc chật chội, thiếu giáo dục và y tế. Hầu hết nhiễm trùng gây tiêu chảy cấp lây truyền qua đường phân – tay – miệng, qua nước và thức ăn nhiễm bẩn.

Khi bị tiêu chảy cấp, ngoài đi đại tiện nhiều lần trong ngày, phân lỏng nhiều nước, thường có kèm theo nôn mửa, đau bụng, sốt và các biểu hiện toàn thân khác tùy theo từng nguyên nhân. Các nguyên nhân hay gặp gây nên tiêu chảy cấp ở trẻ em là:

- Tiêu chảy cấp do phẩy khuẩn, do các vi khuẩn dạng campylobacter gây ra. Ổ chứa vi khuẩn là động vật, thường là ở gia súc và gia cầm như chó con, mèo con, chim, lợn, các động vật gặm nhấm… đều có thể là nguồn lây bệnh cho người. Nguyên nhân các vụ dịch xảy ra phần lớn liên quan đến thức ăn và nhất là thịt gia cầm không được nấu chín, sữa không được tiệt khuẩn và nước chưa được lọc sạch.

- Tiêu chảy cấp do salmonela: đây là nguyên nhân hay gặp nhất trong các nguyên nhân gây ra ngộ độc thức ăn. Khi nhiễm vi khuẩn, sau 12 – 36 giờ sẽ xuất hiện các biểu hiện đau bụng dữ dội vùng thượng vị và quanh rốn, đôi khi đau lan tỏa khắp bụng; buồn nôn và nôn nhiều lần, ỉa chảy nhiều lần trong ngày, dẫn đến mất nước nếu không điều trị kịp thời có thể dẫn đến thiểu niệu, vô niệuvà tử vong do rối loạn nước và điện giải. Điều trị chủ yếu bổ sung nước và điện giải, hạ sốt, an thần và cân nhắc khi sử dụng kháng sinh.

- Tiêu chảy cấp do độc tố của tụcầu: bệnh cảnh này là do ăn phải thức ăn đã nhiễm ngoại độc tố của tụ cầu vàng. Sau khi nhiễm từ 30phút – 6giờ, bệnh nhân đột ngột xuất hiện đau bụng dữ dội vùng thượng vị nhiều hơn vùng rốn, đau quặn từng cơn; buồn nôn và nôn nhiều lần trước khi đi ngoài nhiều lần trong ngày, phân nhiều nước; thường không có sốt hoặc sốt nhẹ, nhức đầu, mệt mỏi, có thể rối loạn nước và điện giải dẫn đến trụy tim mạch, dễ gây tử vong ở trẻ nhỏ. Điều trị chủ yếu là bổ sung nước và điện giải, trợ tim mạch.

- Bệnh do Rotavirus: bệnh lây theo đường tiêu hóa qua thức ăn, nước uống nhiễm virus. Virus này chủ yếu gây bệnh cho trẻ em dưới 2 tuổi; thường xuất hiện sau 24 – 48h, khởi phát đột ngột với các triệu chứng sốt cao hoặc không sốt, nôn nhiều, ỉa chảy nhiều lần trong ngày, phân nhiều nước, đôi khi dẫn đến rối loạn nước và điện giải rất nhanh. Điều trị chủ yếu là điều chỉnh cân bằng nước và điện giải.

- Bệnh do phẩy khuẩn tả: Bệnh lây nhiễm theo đường tiêu hóa, do ăn phải thức ăn, nước uống… bị nhiễm mầm bệnh trong quá trình nuôi trồng, chế biến, bảo quản… hoặc do ruồi nhặng, chuột gián… làm lây lan mầm bệnh. Đặc biệt nguồn nước bị ô nhiễm là phương tiện lây truyền hết sức nguy hiểm. Bệnh thường xảy ra vào mùa hè, đặc biệt những vùng sau lũ lụt; thường xuất hiện ở các nước và những vùng có trình độ kinh tế xã hội thấp kém, không cung cấp đủ nước sạch, điều kiện vệ sinh môi trường không tốt.

 

Sau khi nhiễm phẩy khuẩn tả, bệnh biểu hiện đột ngột xuất hiện ỉa lỏng dữ dội, phân toàn nước, màu trắng đục như nước vo gạo có lẫn những hạt trắng lổn nhổn mùi tanh. Đi ngoài dễ dàng, số lượng nhiều, nhiều lần. Sau khi đi lỏng vài giờ sẽ xuất hiện nôn, nôn dễ dàng, số lượng nhiều, lúc đầu là nước và thức ăn, sau dịch giống như dịch phân; thường không sốt hoặc sốt nhẹ; bệnh nhân mệt lả, khát nước, có khi xuất hiện khó thở, các đầu chi lạnh rúm ró, mạch nhanh nhỏ, khó bắt, huyết áp tụt. Nếu không điều trị kịp thời bệnh nhân sẽ tử vong vì shock không hồi phục.

 Salmonella thủ phạm gây bệnh tiêu chảy cấp.
Dự phòng rối loạn tiêu hóa thế nào?

Táo bón: Tập cho trẻ có thói quen đi đại tiện đúng giờ, những ngày đầu chưa quen, trẻ không đại tiện được cũng không sao, cứ kiên trì, đúng giờ cho trẻ ngồi vào bô như vậy (khoảng 10-15 phút), nói chung khoảng vài tuần sau là có thể tạo thành thói quen phản xạ đi ngoài.

Tăng cường rau xanh trong bữa ăn của trẻ kết hợp hoa quả như cam, bưởi, đặc biệt là chuối, cho trẻ ăn 1 – 2 quả chuối một ngày có thể đạt được hiệu quả của việc nhuận tràng, uống nước đun sôi để ấm. Ngoài ra có thể cho trẻ uống một chút nước mật ong vào sáng sớm, mỗi lần uống không ít hơn 60ml và pha bằng nước sôi.

Tiêu chảy: Để dự phòng tiêu chảy cấp cho trẻ, người lớn (gia đình và nhà trường) cần giáo dục cho học sinh có ý thức giữ gìn môi trường sạch sẽ; giữ gìn vệ sinh cá nhân như luôn rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh; không chơi đùa tại những nơi có rác bẩn; không ăn thức ăn đường phố, thức ăn không đảm bảo vệ sinh; ăn chín uống sôi… Với người lớn thì cần chế biến và bảo quản thức ăn, nước đảm bảo an toàn thực phẩm; phải đảm bảo có “đôi bàn tay sạch” khi chế biến thức ăn; quản lý tốt chất thải sinh hoạt ra môi trường. Không nên để trẻ gần gũi, ôm ấp vật nuôi, đặc biệt khi vật nuôi có dấu hiệu bị ốm. Cần cách ly trẻ mang bệnh với các trẻ khác để tránh bệnh lây lan…

Rối loạn tiêu hóa là chứng bệnh thường gặp và cũng có nhiều người chủ quan nên đã có những trường hợp đáng tiếc xảy ra. Do đó, người lớn nên quan tâm tới vấn đề tiêu hóa của trẻ để có biện pháp can thiệp kịp thời, tránh những biến chứng có hại cho sức khỏe của trẻ. Điều quan trọng là cần đưa trẻ đến gặp bác sĩ khi trẻ gặp rối loạn tiêu hóa để được khám, chẩn đoán và có biện pháp điều trị thích hợp.

 ThS. Nguyễn Bạch Đằng

Bạn đã biết cách chăm sóc răng miệng cho bé yêu

Ai cũng luôn mong muốn bé yêu của mình có được hàm răng chắc khỏe, trắng bóng và biết cách tự vệ sinh răng miệng. Trong khi đó, cuộc sống bộ...